Truy cập nội dung luôn

Thông báo Thông báo

Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1

Chi tiết tin

Gò Công Đông: Kết quả 10 năm thực hiện Đề án An ninh lương thực quốc gia
29/12/2019

Với những chủ trương, chính sách cụ thể đầu tư cho phát triển sản xuất nông nghiệp, tăng năng suất, sản lượng sẽ góp phần nâng cao đời sống của người dân và đảm bảo an ninh lương thực quốc gia.

Thực hiện Kết luận 53-KL/TW ngày 05/82009 của Bộ Chính trị về Đề án An ninh lương thực quốc gia. Qua 10 năm triển khai thực hiện, huyện Gò Công Đông đã đạt được một số kết quả sau:

Tổng diện tích gieo trồng lúa trên địa bàn huyện đến năm 2018 là 30.842 ha, giảm 2.526 ha so với năm 2009, tuy nhiên nhờ áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật nên năng suất đã tăng 9,58 tạ/ha so với năm 2009 (bình quân 5,9 tấn/ha/vụ), sản lượng tăng 9.837 tấn (bình quân 174.113 tấn/năm), trong đó cây màu phát triển theo hướng chuyên canh hoặc luân canh với cây lúa, đáp ứng nhu cầu thị trường. Việc đầu tư phát triển vùng sản xuất màu chuyên canh tập trung ở các xã Bình Nghị, Tân Đông, Tân Tây, Tân Thành, Tân Điền… theo hướng xây dựng các chuỗi rau an toàn, tăng cường liên kết giữa nông dân với nông dân, giữa nông dân với doanh nghiệp để thực hiện có hiệu quả việc gắn kết sản xuất với tiêu thụ. Diện tích gieo trồng màu thực phẩm 10.350 ha (tăng 3.100 ha so năm 2009), sản lượng thu hoạch bình quân 176.000 tấn/năm (tăng 90.000 tấn so với năm 2009). Toàn huyện hiện có 23 ha rau màu đã được chứng nhận VIETGAP. Nhìn chung, mô hình chuyển đổi cơ cấu cây màu luân canh với cây lúa giúp gia tăng lợi nhuận từ 3,7 - 5,8 lần so với lúa. Đất trồng cây lâu năm hiện nay là 2.171ha, phân bố nhiều trên địa bàn các xã Kiểng Phước, Tân Đông, Bình Ân, Bình Nghị, Phước Trung, Tân Thành. Trong đó đất trồng cây ăn trái khoảng 1,337 ha, sản lượng 34.331 tấn. Nhờ áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật cũng như đầu tư công chăm sóc nên chất lượng và sản lượng các loại cây ăn trái ngày càng tăng lên.

Thực hiện Đề án “Cắt vụ, chuyển đổi mùa vụ và cơ cấu cây trồng các huyện phía Đông của tỉnh Tiền Giang đến năm 2025” trong năm 2018 thực hiện với diện tích cắt vụ là 693,34 ha (cắt vụ Thu Đông) chủ yếu tại xã Tân Điền gồm luân canh màu trên nền đất lúa được 33,98 ha, chuyển đổi đất sản xuất lúa kém hiệu quả sang các loại cây trồng khác được 358,72 ha (chủ yếu hoa màu, trồng cỏ phục vụ chăn nuôi và cây thanh long). Việc liên kết sản xuất cánh đồng lớn được sự quan tâm hỗ trợ của các sở, ngành tỉnh, UBND huyện đã chỉ đạo các cơ quan chuyên môn và Ủy ban nhân dân các xã - thị trấn triển khai thực hiện mô hình cánh đồng lớn sản xuất lúa tại các địa phương. Công tác chấn chỉnh hoạt động cánh đồng lớn đúng thực chất, hiệu quả và bền vững là nội dung nhiệm vụ được thực hiện thường xuyên. Đến nay, huyện có 08 đơn vị gồm (02 công ty, 02 DNTN và 04 thương nhân ở địa phương) tham gia liên kết thực hiện 21 lượt cánh đồng lớn (trong 03 vụ) trên địa bàn 07 xã của huyện với tổng diện tích là 1.857 ha với hơn 2.000 lượt hộ tham gia (đạt 102,09% so với kế hoạch năm của huyện). Nhìn chung, việc chuyển đổi triển khai thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng liên kết chuỗi giá trị để nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững của huyện được thực hiện tốt, góp phần tăng thu nhập đáng kể cho người dân nông thôn.

Từ nguồn kinh phí hỗ trợ của Nghị định 35/2015/NĐ-CP, hàng năm huyện đều triển khai thực hiện các mô hình trình diễn. Các tiến bộ kỹ thuật đang áp dụng: Mô hình "Sản xuất lúa ứng dụng công nghệ 4.0", mô hình “1 phải, 5 giảm và công nghệ sinh thái”; mô hình tưới ngập khô xen kẽ; sử dụng nấm xanh Ometar để quản lý rầy nâu hại lúa, hạn chế bệnh vàng lùn lùn xoắn lá lúa; bón phân theo nguyên tắc “4 đúng” áp dụng trên cây lúa, mô hình trồng thanh long leo giàn. Thực hiện quản lý và phòng trừ dịch hại tổng hợp (IPM), kỹ thuật xử lý ra hoa và các biện pháp tưới tiết kiệm nước trong sản xuất áp dụng trên cây ăn quả; ứng dụng đệm lót sinh học, quy trình chăn nuôi an toàn sinh học; mô hình “Chăn nuôi vịt đẻ thương phẩm ứng dụng đệm lót sinh học”; ứng dụng chế phẩm sinh học trong quy trình nuôi tôm thẻ, tôm sú; ứng dụng thiết bị tiên tiến trong khai thác trên tàu khai thác xa bờ (máy dò ngang và bóng đèn tiết kiệm điện Ecolight trên tàu khai thác xa bờ); ứng dụng công nghệ vi sinh để xét nghiệm chẩn đoán bệnh cá, quan trắc môi trường ao nuôi áp dụng trên lĩnh vực thủy sản. Qua tuyên truyền vận động, đến nay tỷ lệ nông dân sử dụng giống lúa xác nhận đạt khoảng 90% trên tổng diện tích sản xuất lúa, tăng 50% so với năm 2009, trong đó lúa thơm và lúa chất lượng cao chiếm trên 97%, tăng 44% so với năm 2008.

Nông dân đang thu hoạch lúa

Về lượng giống sử dụng trong gieo sạ đã giảm từ 200 - 210 kg/ha hiện còn khoảng 120 - 150 kg/ha. Ngoài ra hầu hết nông dân đều sử dụng máy phun thuốc BVTV, vận chuyển lúa bằng cơ giới, việc áp dụng mô hình “3 giảm 3 tăng; 1 phải 5 giảm” nông dân đã thấy được hiệu quả, đang tiếp tục nhân rộng, đã có 6.845 ha thực hiện giảm giống, giảm giá thành thông qua sạ hàng và cấy. Việc áp dụng cơ giới hóa trong khâu làm đất và thu hoạch đến nay đạt 100%. Toàn huyện có 600 máy làm đất, 90 nông cụ sạ hàng, 06 máy phun giống, 8.500 máy phun thuốc BVTV, 25 máy sấy lúa, 185 máy gặt đập liên hợp, 05 máy cấy, 20 máy cuốn rơm. Hệ thống thủy lợi trên địa bàn huyện có 288 tuyến kênh với tổng chiều dài 517.025m, được tổ chức quản lý và khai thác có hiệu quả, đảm bảo phục vụ cho 100% diện tích sản xuất. Việc đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nông, ngư nghiệp không chỉ đem lại hiệu quả về kinh tế mà còn đem lại hiệu quả về xã hội và môi trường cho người dân nông thôn. Nhờ đó đã giúp hạ giá thành sản xuất, tăng lợi nhuận cho nông dân thêm từ 1,6 - 3,0 triệu/ha. Bên cạnh đó, việc áp dụng các thành tựu của công tác bảo vệ thực vật vào trồng trọt trong các năm qua đã quản lý có hiệu quả một số dịch hại chủ yếu trên cây lúa, trong đó thành công lớn nhất là việc khống chế một cách hữu hiệu dịch rầy nâu, bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá và từng bước giúp người nông dân giảm lượng thuốc BVTV dùng trong trồng lúa, sử dụng công nghệ sinh thái để quản lý rầy nâu và bệnh virus trên lúa...

Cơ cấu giống cây trồng có năng suất, chất lượng cao đã được nông dân quan tâm hơn. Việc ứng dụng các biện pháp canh tác tiến bộ để tăng sản lượng, chất lượng nông sản ngày càng được mở rộng. Cơ cấu giống lúa được chuyển đổi tích cực: giống lúa thơm, lúa chất lượng đạt tiêu chuẩn xuất khẩu thay thế dần giống lúa chất lượng trung bình… Các mô hình sản xuất có hiệu quả cao cơ bản có chuyển biến trong nông thôn. Các đơn vị sự nghiệp trong ngành Nông nghiệp đã có nhiều cố gắng nâng cao hiệu quả hoạt động, phục vụ kịp thời yêu cầu phát triển sản xuất nông nghiệp và xây dựng nông thôn. Ngày càng nhiều doanh nghiệp quan tâm, ký hợp đồng liên kết tiêu thụ lúa hàng hóa… Các chính sách hỗ trợ người sản xuất như: hỗ trợ chuyển đổi từ trồng lúa sang trồng bắp, chính sách quản lý và sử dụng đất trồng lúa… được triển khai thực hiện đồng bộ, kịp thời góp phần động viên, khuyến khích người dân an tâm chuyển đổi sản xuất. Trong năm 2017 đã thực hiện trên 218 cuộc hội thảo, xây dựng 18 mô hình trình diễn sản xuất, tạo điều kiện đưa nông dân tham quan mô hình sản xuất mới trong và ngoài tỉnh từ nguồn Nghị định 35/2015/NĐ-CP. Tổng kinh phí thực hiện trên 229,5 triệu đồng. Hỗ trợ chuyển đổi từ trồng lúa sang trồng bắp trong vụ Đông Xuân 2016-2017 và Hè thu năm 2017 là 29,8 triệu đồng.

Nhìn chung tình hình sản xuất lương thực trên địa bàn huyện qua 10 năm đã được cải thiện liên tục từ đó góp phần ổn định vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Tuy nhiên để thực hiện có hiệu quả hơn nữa Đề án an ninh lương thực quốc gia, trong thời gian tới huyện cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Tiếp tục tăng cường tuyên truyền sâu, rộng cho người dân biết về tác động của biến đổi khí hậu đến hoạt động sản xuất; các chủ trương, chính sách của Nhà nước về tổ chức sản xuất trong điều kiện ứng phó biến đổi khí hậu.

Tập trung đầu tư hoàn chỉnh hệ thống thủy lợi, cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản xuất. Ổn định diện tích đất canh tác lúa hiệu quả. Tiếp tục thực hiện nghiêm kế hoạch hành động thực hiện “Đề án cắt vụ, chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên địa bàn huyện Gò Công Đông đến năm 2025”. Theo đó tiếp tục bố trí lại cơ cấu sản xuất, cơ cấu mùa vụ, giảm diện tích gieo trồng lúa đối với những vùng có nguy cơ thiếu nước cuối nguồn bị thiệt hại hàng năm nhất là ở các xã Tân Phước, Kiểng Phước, Phước Trung, Tân Điền, Tân Thành, Gia Thuận, Tăng Hòa. Tiếp tục áp dụng và nhân rộng các mô hình sản xuất đã được triển khai và đánh giá có hiệu quả vừa nhằm ổn định sản xuất, vừa đạt được giá trị cao trên đơn vị diện tích và ổn định thu nhập cho người dân. Tích cực tuyên truyền, vận động người dân mạnh dạn tham gia các dự án hỗ trợ chuyển đổi sản xuất nhằm từng bước thay đổi tập quán canh tác, vừa được hỗ trợ về mặt vốn, khoa học, kỹ thuật và thị trường đầu ra sản phẩm. Tiếp tục khuyến cáo vận động nông dân nâng cao tỷ lệ sử dụng giống lúa xác nhận tạo thuận lợi trong ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm lúa gạo. Tổ chức thực hiện kế hoạch làm thông thoáng hệ thống thuỷ nông nội đồng, đặc biệt, khảo sát ngay các khu vực có khả năng thiếu nước khi mực nước trong hệ thống ngọt hóa hạ thấp để có kế hoạch bơm tiếp nguồn một cách chủ động; đảm bảo xổ xả, trữ nước ngọt phục vụ sản xuất và dân sinh.

Các địa phương cần chủ động xây dựng kế hoạch thực hiện cánh đồng lớn, nghiêm túc các bước về quy trình thực hiện cánh đồng lớn; nâng chất các mô hình liên kết trong sản xuất lúa hiện có nhằm phát huy hiệu quả hơn nữa. Chủ động mời gọi doanh nghiệp tham gia liên kết trong các lĩnh vực sản xuất, nâng cao trách nhiệm chính quyền cấp xã, đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức người dân, củng cố các tổ hợp tác, hợp tác xã, tăng cường công tác tuyên truyền, vận động người dân biết về trách nhiệm và quyền lợi của mình khi tham gia sản xuất cánh đồng lớn... Tổ chức tốt sự gắn kết giữa các doanh nghiệp và nông dân trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm; kịp thời nhân rộng các mô hình sản xuất đã được đánh giá có hiệu quả.

                                                                                                                                Lê Hồng Quân

Liên kết Liên kết